Số đặc biệt 30/4 của Da Màu, trong sự eo hẹp của thì giờ và câu thúc của đời sống, là đóng góp của một số tác giả trong và ngoài nước để những tiếng nói có cơ hội trộn nhưng không lẫn vào nhau ở cùng một vuông sân. Ở đây, mỗi bài viết là một một chụp bắt của quá khứ, một cách gạn lọc, trầm lắng.
Vào phòng cách ly. Qua tấm cửa kiếng, tôi còn mấy phút để nhìn lại. Thành phố, căn nhà, mẹ thì không còn thấy nữa. Nhưng những bàn tay còn đặt lên cửa kính, chờ vẫy. Tôi tới sát, đưa tay mình lên, áp vào từng bàn tay, qua làn kính dày, mất hết cảm giác, lạnh lẽo. Nga muốn dặn gì nữa à? Không. Chỉ lắc đầu. Chen tới. Giao, Thủy, đưa tay lên. Chen tới. Chóe, mắt sáng quắc, gật gật, cười.
Đến bây giờ, tôi vẫn không tin chuyến hành trình từ Quy Nhơn đến Sài Gòn gần 700 km – chúng tôi phải mất 1 tháng 2 ngày – phải vượt qua bao chiến tuyến, phải vượt qua bao hiểm nguy mà vẫn nguyên vẹn... Trong cuộc chiến đẫm máu này, có bao gia đình Việt Nam may mắn như chúng tôi? Có bao gia đình Việt Nam phải mãi mãi nằm xuống? Có bao gia đình Việt Nam phải mãi mãi phân ly?
Bên kia sông, những giọng hát vang lên, bắt đầu cho một hội diễn văn nghệ nào đó, do sinh viên học sinh phụ trách. Bên này sông, những giọng nói. Từ dưới phố, những giọng nói. ...Cách mạng, làm chủ tập thể, công trình thủy lợi, ngụy quân ngụy quyền, tiến công, dãy chết, chủ nghĩa anh hùng cách mạng... Giọng hát cương lên. Giọng nói cũng cương lên. Nhạc ào ạt.
Tôi đã leo lên xe tăng đầu tiên vào Dinh Độc Lập, nhưng mấy tuần sau, nhớ lại giây phút lịch sử ngày 30 tháng Tư, tôi mới nhận ra chuyện này [mà trong giờ phút nghẹt thở trí óc tôi chưa kịp ghi khắc]: từ thế quỳ lom khom của tôi đằng phía sau mui xe tăng từ từ nhìn lên, tôi chợt thấy một chiếc xe tăng khác nằm chênh chếch phía trước nó (mà sau tôi mới biết rằng đó là xe tăng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa).
Bến cảng chen chúc những người. Gần nơi có những con tàu đỗ bến, đầy rẫy xe hơi, xe gắn máy, hành lí vất bỏ lăn lóc trên bờ và nhiều người đang xô đẩy nhau để leo lên những con tàu lớn. Tôi theo gia đình ông anh lên một con tàu nhỏ, loại tàu kéo chỉ có phòng lái phiá trước, phiá sau trống trải, không có gì ngoài mấy cuộn dây thừng to. Lên tàu kéo này được một lúc, tôi lại xuống theo lệnh của mấy người lớn, hình như là chủ tầu hay người tổ chức di tản.
... Chỉ là một cách tự nhắc lại cho chính mình những điều đã kinh qua trong một ngày định mệnh hơn hai thập kỷ trước, ở đó, một ánh mắt đã được gởi đi và được mang theo cho đến bây giờ, và có lẽ cho đến nhiều năm sau nữa. Cái ánh mắt buồn bã và bao dung của một người lính còn rất trẻ gởi đến tôi trong một sát na chông chênh giữa cuộc tử sinh vẫn còn rất sinh động như mới hôm qua.
Tất nhiên, lịch sử không có chỗ giành cho chữ "nếu“. Vậy nên chúng ta mới có những ngày tháng tư như đã mấy chục năm vừa qua phải không em. Nhưng cũng không phải vì thế mà tình hình mãi mãi không cải thiện được em ạ. Vật đổi sao dời, hy vọng có một dịp nào đó anh lại được viết cho em một là thư về những tháng tư hoàn toàn khác.
Tháng Tư. Bao lâu chúng ta còn nhắc đến tháng Tư, có nghĩa là chúng ta chưa sẵn sàng quên những cuộc chiến của quá khứ và những cuộc chiến tương lai vẫn sẽ còn chờ đợi trước mặt. Vết thương mấy chục năm chưa kéo da non. Hơn cả một vết thương, đó là khối u ác tính của ung thư, càng để lâu càng lở loét, đau đớn cho đến khi chết đi.
Trong niềm hy vọng, rằng càng ngày lịch sử sẽ càng bao quát hơn và khách quan hơn; tôi sẽ chọn nói gì với cái thế hệ sau, thế hệ rất thương yêu, tập tành nói tiếng Việt, và sau này học lịch sử Việt do người Mỹ viết? Tôi sẽ chọn biểu tượng nào, tôi muốn tường thuật với mục đích gì, không kể việc viết một phiên bản mới về ngày 30/4 của chính mình trên các thế hệ sau?
Tôi sợ mình không nói hết, hay không nói đủ, hay nói mà không chạm được vào điều muốn nói. Luôn luôn có một khoảng trống giữa các thế hệ. Nhưng khoảng trống này quá lớn. Mà chỉ là khoảng trống của một ngày – một ngày mang tên 30/4.
Nắp hầm kín đáo. Làm từ thời Pháp, khi còn chở che cho du kích, bộ đội - Đơn vị mật tập sân bay Gia Lâm cũng từng nằm ở đó. Cái nắp tốt. Khung gỗ lim. Nghe nói, gia chủ tháo cả xà ngang nhà thờ họ để tạo nên nắp hầm này. Chẳng thế mà hơn chục năm, sau 1954, hầm hoang phế, nóc hầm cỏ dại ken nhau mọc xanh um, nắp hầm vẫn khít ôm chặt khung, bất chấp thời gian, mưa gió
Tôi khoái kẹp khẩu M16 dưới nách nhả đạn vào kẻ thù. Tôi thấy chúng ngã ngửa, như đang chiếu chậm, hất khỏi mặt đất, dưới lực đẩy của đạn. Chết, Việt Cộng, chết! Ngày nào tôi cũng thấy chúng trên báo, đặt nằm sắp lớp, vài tên quần áo tả tơi, chân tay vắt vẻo kỳ cục. Tôi nhìn phần háng ló ra, nhìn những chân trần (Tôi không thể làm khác hơn: mỗi lần thấy hình hở hang, tôi nhìn háng trước, rồi mới đến mặt, nếu muốn nhìn mặt.)
Con nhỏ tiên tiến này muốn chết, hắn cho chết; hắn cũng chẳng sợ gì những bài bản hắn biết cô nàng sắp giảng cho hắn về những tiền đề trong cuộc đấu tranh giai-cấp, những cặp phạm trù trong triết học Mác-Lênin hay giai-đoạn giẫy chết của chủ-nghĩa tư bản;
Chúng ta trên giường
kề vai tựa gối cùng xem cuốn Những Bức Ảnh Đã Đổi Thay Thế Giới ba phần tư trích dẫn cảnh tượng chiến tranh
cách lịch sử phô trương châm biếm
giải Nobel Hòa Bình
Một cánh cửa chờ anh ở giữa đời
Chiến trận thì ở phía sau
Nhưng khi anh đi qua là đi qua nhà tù
Và thiên đường là một nơi rất quẩn quanh
Ngụy trang toàn bằng từ ngữ