Nghĩ đến Văn Học Miền Nam 54-75 là nghĩ đến một khoảng thời gian 20 năm bị hư vô hóa. Nền văn học này, sau 30/4/1975, đứng chênh vênh nơi ranh giới giữa có thực và phi thực, giữa sống sót và hủy diệt, chưa kể đến những âm mưu đánh tráo nó với cái gọi là “Văn học giải phóng Miền Nam”. Đó là mục tiêu lâu dài của người cộng sản, để giáo dục những thế hệ sinh sau thời điểm này, để khi thế giới muốn nghiên cứu về Văn Học Miền Nam trong chiến tranh, tất cả những gì họ có được chỉ là cuốn Văn học giải phóng Miền Nam của Phạm Văn Sĩ (Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội, năm 1975) trong đó đại diện là một tập hợp những nhà văn cộng sản gốc Nam bộ gồm Trần Bạch Đằng, Huỳnh Minh Siêng, Thanh Hải, Anh Đức, Phan Tứ, Giang Nam…
“Văn chương ở nhiều nhánh ngành của nó không có gì khác hơn là bóng của một cuộc trò chuyện bổ ích" (Literature in many of its branches is no other than the shadow of a good talk): một câu nói của Robert Louis Stevenson. Đặt trích đoạn Mối Tình Màu Hoa Đào cạnh cuộc nói chuyện giữa Bùi Vị Xuyên và Nguyễn Mạnh Côn trong mở vào phần 3 giai đoạn văn học 1954 – 1975, chúng tôi mời bạn đọc vượt qua đôi ba khoảng cách có thể có về thời gian, thế hệ, quan điểm, để đi vào tâm thức và tâm thế của một nhà văn được đánh giá là quan trọng của giai đoạn 1954-1975, cũng là một góc cửa mở vào trường-sinh-hoạt của giai đoạn.
Một nền văn học, cụ thể Văn Học Miền Nam 54-75, có phải là graffiti, là những chữ viết bậy, những hình vẽ bậy không? Trong bài thơ song ngữ “Xóa Bỏ Chữ Viết Bậy” trên số này, Trần Tuệ Quân đã viết:
Hai tuần trước,
tôi tạt thùng sơn màu trắng
lên trên bức tường đó
để ráng sức
xóa bỏ sự tồn tại của anh.
Tôi làm nghĩa vụ
giữ thành phố của chúng ta sạch sẽ
Trở lại với tiểu luận The Long Road Home: Exile, Self-Recognition, and Reconstruction của học giả Nguyễn Bá Chung. Tôi có phần đồng ý với phát biểu của ông về chuyện văn chương quan yếu chỉ có thể mọc ra từ những tâm hồn đã loại bỏ được hận thù và ảo tưởng về quá khứ hay tương lai. Và thiên kiến, nếu tôi được phép!
Đời sống đều là những mong manh ghê sợ như vậy. Không còn thanh bình, không còn tình yêu trong trắng. Thi sĩ vật lộn và hủy hoại chính mình. Đối với họ, thơ không là món hàng trang sức, là hương phấn lụa là đời người, thơ không còn là mục đích cao đẹp của đời sống. Thơ ở đây chỉ là điều bắt buộc phải có, như cơm ăn áo mặc.
Bầu trời sáng tạo của thi ca, từ xã hội đến chiến tranh, mặc tình lan rộng. Lệ sương trong trắng nhường chỗ máu xương tanh tưởi; những đường viền núi buổi sáng những cánh cung xanh buổi chiều, mãi mãi, hết hết, biến mất cho cây trụi, đại lộ vắng người, đồi trọc ngơ ngác, súng đạn lẻ loi
Với tâm trạng lừng khừng (existential ambivalence), các tác giả miền Nam còn lại trong nước sau 1975 bị xem là những kẻ bất tuân chỉ (nonconformist) và do đó có khả năng trở thành mối đe dọa cho viễn cảnh mới của chế độ xã hội chủ nghĩa (the new socialist vision), một chế độ vốn xem sự dễ bảo là một trong những dấu ấn đặc thù.
Duyên Anh trong một thời gian dài đã trở thành một hiện tượng văn học vì tác phẩm của ông đã đáp ứng được một phần những nhu cầu của thời đại, những nhu cầu văn hóa, tâm lý, xã hội của đại chúng. Với sự leo thang của chiến tranh, khi xã hội khủng hoảng trầm trọng về văn hóa, đời sống, một số tác phẩm của Duyên Anh với ý hướng giáo dục đã đáp ứng được một số mong đợi. Đừng đòi hỏi ở ông những đáp ứng triết lý siêu hình của thời đại.
Thế là sau nhiều thập niên đọc, đã đến lúc phải bắt đầu viết, viết về những gì đã quan sát và hiểu biết, đó là lý do chúng tôi thật sự viết về văn-học sử từ năm 1995, bài đầu tiên là bài Miền Nam Khai Phóng gây được một số phản ứng vì trong đó lộ rõ ý muốn phục hồi và đem lại công bằng cho một mảng văn-học bị bỏ quên.
Nếu Thanh Tâm Tuyền hiện đại với âm hưởng Tây phương thì Tô Thùy Yên là dấu vết khảo cổ, nhân chủng học cho một phương đông huyền diệu, thần bí. Không khí cổ thời, ý và nhân sinh quan có vẻ của người xưa, không gian và cảm giác xưa.
Tiểu luận Thế Uyên Chương 5 - Nhìn Lại Chiến Tranh của Chúng Ta
Trong những năm đầu, Việt-Nam Cộng-Hòa có nhiều hy vọng phát triển và thắng thế trong thứ chiến tranh lạnh với Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa. Nhưng vì kém nhìn xa trông rộng, vì ham hưởng lợi, những người lãnh đạo miền Nam trong đó có hai ông Nhu Diệm đã để xã hội trước vốn đã chẳng tốt đẹp gì, nay dần dần trở thành một xã hội đầy bất công và bạo lực thối nát
Nhưng may làm sao, ít lâu sau ông Nguyễn Vỹ làm báo Thằng Bờm, rồi sau đó có báo Tuổi Hoa, rồi Ngàn Thông của Quyên Di và Tuổi Ngọc của Duyên Anh. Hầu hết chúng tôi thời ấy đều đọc và mê truyện của Duyên Anh có khi hơn cả Kim Dung, hay Quỳnh Dao cũng là những tác giả ăn khách thời bấy giờ.
Thật khó tưởng tượng nổi cảm giác một cậu bé học trò mới tập tành viết lách khi nhận được những lời lẽ trân trọng bằng chính nét bút của Chủ nhiệm một tạp chí nghiên cứu - lý luận - sáng tác uy tín bậc nhất miền Nam. Đó là truyện ngắn đầu tay tôi được in với bút danh Tần Hoa và cũng là sáng tác duy nhất tôi được nhận nhuận bút ( với số tiền gần bằng một tháng lương công chức thời kỳ trước 1975).
Hàm hồ. Đó chính là ý niệm quan trọng, nền tảng mà bạn có thể bắt gặp, bó buộc phải bắt gặp, một cách không thể tránh được, trong mọi vấn đề liên quan tới văn chương (...) Yếu tính của văn chương là không có yếu tính nào xác định dứt khoát, là phủ nhận chính yếu tính, là không có yếu tính nào khác hơn sự hàm hồ.
Đêm Nghe Tiếng Đại Bác trong như một chén nước mưa mà trung thực như một tấm gương soi thuận chiều ánh sáng. Điều chắc chắn sẽ làm cho bạn đọc vui lòng nhất, là câu chuyện xẩy ra trong một gia đình trăm phần trăm vừa phải. Người nghèo quá còn bận kiếm ăn, không có thì giờ cho tình cảm.
Tại sao người phê bình cứ phải yêu sách một nhân vật tiểu thuyết phải làm hơn một nhân vật tiểu thuyết, một tác phẩm phải làm hơn một tác phẩm. Ở đây phê bình vượt qua giới hạn của chính phê bình. Bởi nó đã phủ nhận thực tế của tác phẩm đang là đối tượng của nó. Thực tế tác phẩm: thực tế của những dòng chữ được viết ra, thực tế của cuốn sách được hoàn tất; thực tế của một cái gì tự đầy đủ, không thể sửa đổi hay hàn gắn gì được nữa.
Thanh niên và trí thức có gia đình theo đạo Phật nhưng phải nói trớ ra là đạo ‘thờ ông bà’ để tránh trở ngại trong sự nghiệp, thấm thía nỗi bơ vơ về mặt tâm linh. Ngó qua trời Tây họ thấy toàn những triết lý hấp dẫn nhưng xa lạ: Plato, Aquinas, Descartes, hiện tượng luận, trí thức luận, hiện sinh, cám ơn các trí thức trẻ đi học ở Pháp về, phần lớn quy tụ ở Đại Học Huế. Tập san Đại Học Huế đã mở cho họ một cánh cửa nhìn ra thế giới tư tưởng bên ngoài.
Chân ướt chân ráo tới Sài Gòn, tôi tìm đến Hồ Dzếnh ngay, bởi tất cả nhà văn sống ở Sài Gòn hồi đó, tôi chỉ quen có mỗi mình Hồ Dzếnh, tôi đến tìm Hồ Dzếnh vào lúc trưa. Anh Dzếnh giới thiệu tôi với ông Nam Đình lúc đó đang bận rộn với mấy hàng tít lớn trên báo chí khẽ gật cái đầu chào lại tôi rồi lại cắm cúi xuống trang bài vở còn ướt mực trên bàn.
“Mai Thảo ơi! Sông Mã sông Chu có cầu không nhỉ?” Đó là câu đề tặng sau này, cuốn Ai Có Qua Cầu, anh Quỳnh viết cho tôi, trong cái ý gợi tôi nhớ lại cùng anh mấy lần gặp mặt giữa hai giòng Chu, Mã chảy song song trên địa hình Thanh Hoá. Và cái tuần lễ ghi khắc xâu đậm trong trí nhớ tôi, ở Quần Tín. Đã ngót ba mươi năm.
Miền Nam? Một quốc gia biến mất. Văn chương miền Nam? cũng biến mất. Còn Dương Nghiễm Mậu? một gương mặt bí hiểm. Thế hệ tôi chưa kịp đọc ông. Chúng tôi hãy còn quá nhỏ, dù miền Nam tràn ngập sách báo, dù chúng tôi đi thuê truyện mỗi chiều, ngốn ngấu Duyên Anh, Nguyễn Thanh Trịnh, Ðinh Tiến Luyện, Từ Kế Tường, Nguyễn Ðình Toàn...
Trong làng hí họa Sàigòn trước và sau năm 1975, họa sĩ Chóe là một tên tuổi không thể không nhắc đến trong số ít những cây cọ biếm tiêu biểu: Ớt (Huỳnh Bá Thành), Nguyễn Tài (Nguyễn Hữu Tài), Nhím (Nhữ Đình Ngoạn)...
Chúng tôi từ biệt anh ra về khi cơn mưa chiều vừa chấm dứt. Anh Nguyễn Mạnh-Côn tiễn chúng tôi ra cửa. Dưới ánh sáng ngoài trời, tôi nhận thấy tóc anh đen hẳn lại. Tôi hỏi hình như hồi đầu năm, tóc anh đã bạc nhiều ở thái dương? Anh xác nhận mới bị đau...
Ước vọng của TCS là tất cả có được ’một đời sống không mang thù hận’. Như trong kinh Bát Đại Nhân Giác, rất khó mà không ghét kẻ thù của mình. Nhưng nhớ đến lá thư của Nhất Hạnh gởi cho Martin Luther King: kẻ thù ta đâu có phải là người!
Ngã tư Lê Quý Đôn-Trần Quý Cáp. Xuống. Vào. Nhà trưng bày tội ác Mỹ Ngụy. ... Để coi, tôi có gì. Giải khăn sô cho Huế. Chỗ tốt, giữa khung. Thêm Đêm nghe tiếng đại bác. Một mai khi hòa bình. Kìa, Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Chu Tử, Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên. Nguyễn Mạnh Côn. Tội ác cả đấy. “Chị Nhã Ca à. Chị đã thấy lại tác hại của loại sách vở cũ chưa?” Vẫn cái anh Mười Kết bên cạnh. Tôi nhìn lên mấy cuốn sách, trân trọng chào mình, chào bạn hữu.
Nó vào ngồi ở bên cạnh rất thản nhiên. Tôi nghĩ chắc nó cũng sống như tôi – thật tội nghiệp. Tôi nhìn vào mặt nó. Nó cũng chỉ độ tuổi tôi. Tóc uốn quăn môi son và mặt chát phấn. Nó mặc quần áo trắng. Nó ăn hết rồi ngồi mút mười đầu ngón tay còn vẻ thèm nhạt.
Hồn ma cũ ấy chỉ hiện về được trong cảnh náo nhiệt nầy là vì có cuộc trùng phùng cơ hội như hôm nay: thời gian, nơi chốn, màu sắc, hình ảnh, mùi vị, tiếng động, âm thanh; tất cả những thứ ấy khi đủ mặt, họp nhau để huy động ký ức của chàng.
Chuyến xe mang theo hạnh phúc cùng với hơi sương tinh khiết của một đầu ngày. Tình và Gái Con sẽ thức dậy rất sớm. Hai đứa sẽ ngồi trong một ngôi quán khác với ngôi quán này ở bến xe. Bữa ăn sáng rực rỡ hạnh phúc. Hai ly cà-phê nồng nàn trước lúc lên đường dời bỏ thành phố. Tình như lắng nghe được những rung động từ đầu một cành lá trên con đường sáng sớm còn tù mù ánh đèn đêm.
Cái giấy hoãn dịch. Cũng phải đàng hoàng, muốn cho chắc thì mang đi mà ép nhựa cho khỏi rách, khỏi nhàu mà giữ được lâu, nào đâu phải một cái giấy gì, nhiều khi là cả một tập hồ sơ công phu, mất nó là không ăn không ngủ được. Cái giấy chẳng là gì nhưng nó chứng nhận một kẻ làm người. Nếu không …
Tôi đã chờ đợi, nhưng những ngày cuối năm cũng không có gì thay đổi. Thay đổi? Hai tiếng đó nghe có vẻ nhuốm một chút khôi hài và hơi nặng nề. Tôi đánh thức thằng nhỏ trở dậy đi học mỗi sớm mai, và nghĩ, đáng lẽ đó là công việc của mẹ nó. Tôi còn tưởng tượng ra bàn tay mẹ nó lùa vào sườn nó cù cho thằng nhỏ tỉnh ngủ, lối đánh thức con đặc biệt của nàng.
Anh nói thế, có nghĩa rằng màu hoa đào của tôi chỉ là màu bịa đặt. Rằng người con gái đẹp, người con gái tôi yêu tha thiết, mà tôi trở về tìm ở ngôi nhà bỏ không đường Quan Thánh, người con gái mà tôi đã vượt qua bao nhiêu phòng tuyến để lại gặp một lần … cả người con gái ấy cũng bịa đặt hay sao?
Y đứng giữa phòng triển lãm nhìn ngó ngu ngơ những bức tranh, nhưng y không trông thấy gì hết, những màu sắc mát mẻ hay nóng sốt kia không ăn nhập gì đến y. Y ngồi xuống một chiếc ghế cao, mở một quyển sách, đọc lướt một dòng chữ. Một cậu bé mười hai tuổi, chết vì buồn. Không tưởng tượng nổi, không thể nào có thể tưởng tượng được. Mười hai tuổi, chết vì buồn. Có phải đó là cái chết của một thế hệ chưa kịp lớn như sự héo úa của một chồi lá chưa kịp xanh hay là cái chết của sự ngu xuẩn và bất lực?
Trong một khu vườn khác, vài bông hoa sầu đông len lén mở mắt, lắng nghe mấy cô gái đang kháo chuyện trong sân. Cây mai vàng đầy lá non, đầy nụ xanh, như cũng giật mình từng chặp, muốn bung nở hết cho rồi, mà còn sợ lạnh, chỉ mới dám ngại ngùng hé mắt một tí. Bên gốc mai có ba cô gái.
Chú Sáu nằm trong bóng đêm âm thầm nhớ tha thiết, nhớ dại dột con bò đực vĩ đại của chú. Người tu hành có đức chúa, người đi giải phóng có lưỡi mã tấu, anh lính có cây súng, và chú có con bò đực. Chỉ với nó thôi, cả vũ trụ chú ở đó.
Khung Rêu trích đoạn tiểu thuyết Nguyễn Thị Thụy Vũ
Xong công việc bếp núc, Tịnh trở vào phòng riêng, ngồi lại bên cửa sổ ngắm bông cẩm nhung tím trong chiếc lọ thủy tinh màu hổ phách. Nàng tìm về những mùa xuân xa cũ bên bà mẹ góa bụa tận miền Hà Tiên. Những ngày sống bên mẹ thật vui êm đềm. Tịnh nhìn cuộc đời hấp dẫn như màu giấy hồng đơn gói tiền mừng tuổi trong ngày đầu năm.
- Chú có thích nghe nhạc không ? Ba tôi thích cải lương như mẹ tôi. Tôi thì ghét. Tôi thích nghe hát tân nhạc. Hôm đánh nhau ở khu này, hai người bộ đội vào nhà tôi đòi ăn cơm, tôi nhờ họ moi hộ cái đầu đạn, họ quát bắt tôi ngồi yên nơi xó nhà. Tôi có mở nhạc nghe. Nhưng một ông bắt tôi tắt máy còn một người bảo tôi cho ông ấy nghe một bài vọng cổ.
Tiếng còi rú lên một lần cuối rồi cả đoàn tàu lừ lừ tiến vào bóng đêm. Đứng nấp vào một góc tối nhất của sân ga, Hảo nhìn theo đoàn tàu. Phía bên kia, Hảo thấy rõ chồng mình đang lắc lư chiếc đèn đỏ trên tay.
Mỗi khi hắn giở đòn, nạn nhân mạnh nhất cũng khó có thể chịu nổi ba cú đánh. Hai bàn tay hắn để những móng dài, nhọn như vuốt chim ưng, bấu vào ót nạn nhân, kéo ghịt xuống. Rồi trong cái đà bổ xuống đó, ngực nạn nhân sẽ hứng trọn chiếc đầu gối của hắn từ dưới hất mạnh lên
Người sư đệ vừa trông thấy trong kính thần, hình bóng của mình đứng bên cạnh hình bóng một con yêu to lớn với đôi mắt tối sâu như hai miệng giếng không đáy, hai chiếc răng dài quặp sâu vào chiếc càm vuông, trên một khuôn mặt xám ngoẹt như gà cắt tiết.
Trong am, chỉ có một sư cụ già, thui thủi một mình, quanh năm chẳng được ai thăm viếng. Trước am, nơi giữa sân, chất sẵn một đống củi, vừa lớn , vừa cao ngất, củi sắp vuông vắn, thẳng thắn, dường như được săn sóc chẳng khác một vườn kiểng do một vị lão trưởng giả chăm nom.
Lúc nước rút bác có cái khoái là mình phải, vợ trái, bác lại cự được vợ mấy câu, vợ cứ phải ngồi yên hết đường cãi lại, nhưng dẫu sao bác cũng phải chịu cái khổ ngủ với lợn trong ít lâu.Có lần bác ngăn được vợ nhưng thấy vợ cả ngày cứ đi ra đi vào, rấm rứt, miệng nói lẩm bẩm, hết cốc đầu đứa nọ lại cốc đầu đứa kia luôn tay nên bác nghĩ thà ngủ với lợn còn hơn.
Tôi đã quen như thế rồi. Bởi vậy trưa hôm đó lần đầu tiên chàng đánh tôi, tôi hoảng sợ hết sức. Chàng gây sự giữa trưa, sau bữa cơm, lúc đáng lẽ chúng tôi sắp sửa đi ngủ. Chàng xán vào mặt tôi một cái tát, giữa trưa nắng. Cả nhà lặng ngắt như tờ. Nắng bốc khói trên mái ngói. Tôi điếng người, thất lạc.
Đã lâu lắm, đêm đó tôi mới thấy thằng em út tôi có chiếc chiếu đắp kín chân không trông thấy đôi bí tất buộc túm chỗ rách. Sáng ra, mẹ tôi cẩn thận gấp chiếu rồi vắt lên chiếc giây thừng căng cao ngang mái nhà. Thế là từ đây đêm đêm nghe tiếng gió rít và những hạt mưa táp vào đầu hồi tôi cũng yên chí cho các em đã tạm đủ chiếu nằm, chiếu đắp.
Nhưng vực sâu như mở ra dưới chân Trâm, và gió bão vừa bắt đầu chuyển mình réo sôi quằn quại. Không còn một ý niệm nào về thời gian, không gian, tốt xấu, đạo đức hay vô luân ở giây phút hoang mê đó. Nhưng Trâm vẫn còn mong mỗi được giải thoát và lẩn trốn vũng tối ghê gớm này. Sau đó, để làm gì. Tìm về ánh sáng để làm gì, Trâm không biết.
Nàng không chối cãi điều đó: Thừa hiện hữu rõ rệt hơn bao giờ hết. Tuy vậy Loan không thấy chính nàng đâu cả. Yêu Thừa quá say mê, hành động theo ý chàng, sống lại những kỷ niệm trong đó Thừa bao giờ cũng giữ vai chính lấn át cả hình bóng nhỏ bé của nàng, dần dần Loan mờ đi và nếu nàng không tìm được một lối thoát có lẽ nàng nhỏ mãi để rồi biến mất.
những giọt mưa trên ruộng bùn máu bết
những giông bão thổi tung những núi non
những vết thương rách thịt bật rễ những thân cây
những gió lồng những lời rên xiết
viết văn trở lại / trước một hàng người / im lặng và hấp hối
sau kẽm gai cùng thẳm một trại giam / cộng sản
hàng ngàn người có Nguyễn Sỹ Tế ở đầu
Phan Nhật Nam ở giữa / và Tô Thuỳ Yên ở cuối
Hãy chiêm ngưỡng tạm C và R ở Cuống Rốn
tông vàng nghệ trên nền nâu già, hay cam chín nửa, trên than sẫm
một mẫu triện mảnh, đôi chữ nghiêng, gối lên, Lá Bối
Joan Baez đã gọi Trịnh Công Sơn là “Bob Dylan của Việt Nam.” Trong phim Mùa Hè Chiều Thẳng Đứng (Vertical Ray of the Sun) của Trần Anh Hùng, nhạc Trịnh Công Sơn đi cùng dải ghi âm với nhạc của Lou Reed, Arab Strap và The Married Monk. Một nhóm nghệ sĩ xuất sắc, lẽ dĩ nhiên, và cũng là một sự so sánh có nhiều ý nghĩa, nhưng Trịnh Công Sơn lúc nào cũng là người hoàn toàn độc lập.
Những bận nào Trà Linh qua Đá Dừng Hòn Dựng
Dùi Chiêng về Phường Rạnh ngược Khe Rinh
Bao lần anh cùng chúng em lận đận
Bôn ba qua rú rậm luống rùng mình