Chủ đề Chiến Tranh trên Da Màu tháng 4 là một nỗ lực khai phá và nhìn lại các cuộc chiến, trong đó có cuộc chiến Việt Nam, qua phê bình và sáng tác văn học.
Chúng ta viết về chiến tranh như thế nào? Chúng ta tường thuật về chiến tranh ra sao? Thế nào là sự thật của một cuộc chiến? Câu hỏi của Tim O’Brien trong cuốn tiểu thuyết The Things TheyCarried chính là nỗi băn khoăn của chúng ta, về tính bất định và khả tín của những câu chuyện chiến tranh; trong tư thế người viết, chứng nhân, nạn nhân, và người tham dự...
Cái chết hôm 11 tháng tư vừa qua cúa nhà văn Kurt Vonnegut gọi về danh tính một thành phố của nước Đức. Cuộc bỏ bom không thương tiếc thiêu rụi thành phố Dresden, vào đêm 13 tháng 2 năm 1945, đã được dựng dậy trong hai tác phẩm của ông: Những Định Mệnh Tệ Hơn Cái Chết và Xưởng Tế Sinh Súc Vật 5. Tưởng nhớ Kurt Vonnegut, chúng ta đọc lại đoạn văn về Dresden:
"... không một chiến binh quân Đồng Minh nào có thể tiến nhanh hơn một lóng tay nhờ trận bom lửa xóa rụi Dresden. Không một tù binh nào của nhà tù Đức Quốc Xã có thể ra khỏi nhà tù sớm hơn một phần ngàn giây. Chỉ có một con người trên trái đất hưởng lộc nhờ nó, tôi là kẻ ấy. Tôi nhận được 5 đô la cho mỗi thây người chết, và tôi đếm tiền thu hoạch đêm nay"... Đọc tiếp >>
”Đây là những trang thơ được sưu tập từ một thời kỳ đen tối của quê hương, khởi điểm bằng lệnh tổng động viên và chấm dứt bằng ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Hy vọng tập sách này là một nguồn tài liệu giúp cho những nhà phê bình văn học, những người nghiên cứu văn học sử, và những ai chưa có dịp tiếp cận với nền văn chương Miền Nam trong thời chiến tranh để họ có cái nhìn rõ và đúng đắn hơn về một dòng văn chương tình tự, rất là tự do, khai phóng, sáng tạo và nhân bản”.
Thỉnh thoảng, những lúc rảnh rang, tôi vẫn có ý thêu dệt một câu chuyện nào đó để kể cho Lin nghe khi cô trở về. Chuyện ấy dứt khoát phải thật dài, dài và có thể làm cho Lin thích thú đến nỗi quên rằng nó đã làm cháy hết những que diêm trên trần gian, để thắp sáng những đêm thâu của chúng tôi.
Đối với tôi, chiến tranh Việt Nam đã được Hoa Kỳ hợp thức hóa, và nó cũng không vớt vát được điều gì. Không như Bắc Việt, tôi không coi chiến tranh này như chiến tranh xâm lăng của người Mỹ, và tôi cũng thấy khó chịu khi người Mỹ bày tỏ mặc cảm tội lỗi và cố xin lỗi tôi về những gì họ đã mang đến cho quê hương và xứ sở tôi. Tuy nhiên, tôi cũng không thể tránh nỗi căm phẫn khi còn nhớ, cách đây 30 năm trước, Jimmy Carter (một vị Tổng Thống Hoa Kỳ được ca ngợi qua nhiều thành tích nhân bản của ông), đã tuyên bố: “Chúng ta không nợ Việt Nam chuyện gì nữa. Sự tàn sát đã nghiêng ngửa ở hai bên.”
Mái nhọn trên đỉnh dốc. Căn nhà, đúng hơn, một lâu đài nho nhỏ. Lối kiến trúc Tây Ban Nha cho nó một sức ấm, thân mật, thu vén, làm cân bằng bầu khí dầy lạnh lẽo của cả vùng. Sơn màu lá sen. Như bệt phấn giữa mặt người. Nó độc chiếm trọn một diện tích bao la nhìn từ dưới lên chẳng khác gì một chiếc ao nước đã cạn và cây non thay cho rêu đang chia nhau rất công bằng chu vi hình thoi. Phong cảnh thật quý phái và vô cùng quyến rũ.
If Vietnam is a tattoo, then I would prefer to think of it as an S that spans the hollow between my breasts or that hooks around my belly button, a beautiful green dragon that I placed there all those years ago, my secret scar to keep.
Nếu Việt Nam là một vết xâm, tôi thích nghĩ về nó như một chữ S căng giữa trũng sâu hai bầu ngực hoặc như dấu móc chung quanh chiếc rốn của tôi, một con rồng xanh tuyệt đẹp mà tôi đã in khắc nơi đó nhiều năm, một vết sẹo bí ẩn để cất dấu.
Ðây là một cuốn phim mà Coppola tuyên bố một cách ngạo nghễ “không phải là về Việt Nam — nó là Việt Nam.” Phim này, như vậy, thực ra là về một bầy những tên da trắng, kể cả Coppola, lội sâu vào quả tim đen tối của chính bọn họ. Chắc chắn nó không phải là về Việt Nam. Tôi cũng không dám chắc nó là một phim chiến tranh Việt Nam.
Trong lĩnh vực văn chương, đề tài "chiến tranh Việt Nam" đã làm sinh ra vô số tác phẩm. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy mặc dù văn chương về chiến tranh Việt Nam cực kỳ phong phú về số lượng, chỉ có một số tác phẩm được xem là những thành tựu nghệ thuật. Tại sao vậy?
tiểu luận Carolyn Forché vi lãng và Nguyễn Đức Nguyên chuyển ngữ
Thời đại của chúng ta đã mất đi dàn dựng của một câu chuyện. Để gần hơn với ý thơ của Adonis, một câu chuyện mạch lạc hàm chỉ sự tiến bộ và hoàn tất. Lịch sử của thời này không chấp nhận được liều thuốc an thần của tiến bộ, hay lời hứa hẹn của hoàn tất. Lịch sử này chỉ có thể được kể lại qua những hình ảnh rời rạc; sự kiện này cho thấy thời đại đang sống qua sự lập đi lập lại một câu chuyện cũ, như đánh dấu cho sự luân hồi triền miên của địa ngục.
Tháng Tư. Ngày đầu tháng là “Ngày lỡm” (April fools’ day). Ngày cuối tháng là ngày kỷ niệm chấm dứt chiến tranh Việt Nam/Hoa-kỳ. Phải chăng ai đã đùa tinh quái và dân tộc Việt Nam mắc lỡm. Hơn hai mươi năm tương tàn và ba mươi hai năm ly tán. Thiền sư Nhất Hạnh trở về lập đàn giải oan cầu vong linh hàng triệu người chết siêu thoát, và mong tám chục triệu người còn sống hoà giải bắt tay nhau. Thế nhưng không được nói, không được nghe, làm sao được hiểu?
CHÍN CHỮ CỦA NÀNG trích đoạn tiểu thuyết Dương Như Nguyện Dương Đức Nhự chuyển ngữ
Tôi cất giữ chín chữ ấy trong một cái bình ảo thuật và đậy nắp lại, cùng với thời thơ ấu mới lớn ở Việt Nam. Đồng thời, tôi tiếp tục chờ đợi, hi vọng sẽ gặp một người nào gọi tôi là Đệ Nhất Phu Nhân. Tôi không bao giờ gặp cả.
Thuận quyết định không ra khỏi giấc mơ của mình, giấc mơ mà sau cùng anh đã tìm thấy, cái giấc mơ như một phủ định mọi ý nghĩa gán ghép cho những biến cố đã xảy ra cho đời anh trong mấy chục năm qua. Và bằng một cách nào đó không thể giải thích được, anh đã toại nguyện.
truyện ngắn Tim O'Brien Hoàng Ngọc-Tuấn chuyển ngữ
Đây là sự-thật-có-xảy-ra. Tôi đã từng là một người lính. Có rất nhiều xác chết, những xác chết có thật với những khuôn mặt có thật, nhưng lúc ấy tôi còn trẻ và tôi sợ, không dám nhìn. Và bây giờ, hai mươi năm sau, tôi vẫn còn mang trong tôi cái trách nhiệm vô hình vô tướng và nỗi khổ tâm vô hình vô tướng.
Vào mùa Xuân năm 2007, Hà Nội đưa ra đề thi cho phân khoa phê bình giả tưởng như sau:
Phần I:
(1) Hãy định nghĩa ý niệm “phê bình văn chương giả tưởng.” Giả tưởng ở phần “văn chương” hay ở phần “phê bình”? Giả tưởng là “hư cấu” hay “siêu hư cấu”?
truyện ngắn Spôjmaï Zariâb Nguyễn Khánh Long chuyển ngữ
Đầu tôi đâu nhỉ? Tìm đầu tôi đi! Những chiếc giày đinh đã tách đầu tôi khỏi thân tôi. Có lẽ đầu tôi đã trở về làng... Những chiếc giày đinh! Những chiếc giày đinh! Chớ để chúng lại gần! Những chiếc giày đinh lại gần... Thượng Đế ơi, con van ngài, hãy cho một phép màu! Những chiếc giày đinh lại gần!
Từ tháng hai, bọn sinh viên da vàng đã bắt đầu rục rịch. Mỗi tối, tin chiến sự từ bên nhà được hai đài truyền hình chính tường thuật càng lúc càng sôi động. Triệt thoái cao nguyên. Dân chúng từ miền ngoài xô nhau tản giạt về Đà nẵng, Nha trang. Tin Mỹ việt nam hoá toàn bộ chiến cuộc, không tiếp tế đạn dược.
Ngay buổi trưa hôm đó - ngày 30 tháng 4, năm 1975 - bà tôi chia của cải cho con cháu. “Mỗi người một lọ,” bà nói. Mỗi lọ thủy tinh cỡ bằng ống thuốc chích. Mỗi lọ đựng thứ chất lỏng trong suốt, nặng sóng sánh. Bà nói bây giờ quý hơn vàng. “Có vàng cũng không mua được.”
Bà gọi chất lỏng đó là xi-a-nuya.
(Viện bào chế dược phẩm Lanton trên đường Cao Thắng đã cam đoan là cực độc - máu sẽ đen đặc, ruột sẽ đứt, phổi sẽ nát, tim sẽ ngưng đập, chỉ trong vòng mười giây.)
Ba mươi năm sau Nguyễn Hương gọi nó là cyanide.
Mấy tháng trước tôi lên Sở Công An quận Năm xin giấy phép ra bắc thăm nuôi chồng. Theo thủ tục tôi đem giấy khai sinh và một cái thư của chồng tôi viết từ trại cải tạo chứng minh có người nhà ở tù. Thư phải kèm cả phong bì có đóng dấu, phải nói rõ tên tuổi, số tù, ở trại nào, lại còn phải chỉ rõ đường đi nước bước để người trong này ra thăm không bị lạc đường. Trong khi chờ giấy phép tôi sửa soạn đồ ăn thăm nuôi cho nhà tôi. Hồi đó bánh mì không được mua tự do. Mua cái gì cũng phải trình hộ khẩu. Đọc tiếp >>
"Ai mà biết!" Câu trả lời trụi lủi những ngôn từ của mẹ khiến chàng nghĩ bà giận dỗi vì những câu hỏi trẻ con của mình. You always think that I’m a kid! Lúc nào mẹ cũng nghĩ con là đứa con nít. Ðồng ý là lúc mẹ gom góp tiền bạc cho con đi vượt biên mười mấy năm về trước, thì con chỉ là một thằng bé không biết gì, ngoài cái địa chỉ của nhà ở Việt Nam để báo tin đã đến nơi đến chốn. Bây giờ khác rồi. Con cũng đã có girl friend, ấy quên, bạn gái rồi chứ bộ.
Quay mặt ra phía sân chợ X… Hội đồng xã TL có dựng một tấm xi măng làm bảng kẻ khẩu hiệu, từ thời đệ nhất Cộng Hòa. Dạo đó người ta đắp nổi hẳn bằng xi măng giòng chữ "Ngô Tổng Thống muôn năm". Nhưng dường như lòng hoài vọng của con người ít khi được toại nguyện, nên sau đó họ phải hối hả đục bỏ, viết lại trên mặt xi măng nham nhở một câu khác: "Hoan hô tinh thần cách mạng 1/11".
Kiến đồng bò quanh mắt, quanh miệng những xác chết. Chúng bò rất chậm vì bụng no căng máu. Có xác chết miệng mở ra như những con cá đang thoi thóp cố hớp những ngụm không khí cuối cùng. Có nhiều tiếng đàn bà khóc lẫn tiếng đóng quan tài.
Để cho Hoa Kỳ tha hồ đến đóng chiếm những quốc gia có những tài nguyên hoặc vị trí chính trị và chiến lược quan trọng, hành tinh 581c sẽ là nơi tị nạn chiến tranh lý tưởng. Nước Mỹ sẽ tài trợ những cuộc vũ trụ vận (spacelifts) và những trang bị cần thiết cho dân tị nạn trong cuộc hành trình 20 năm và 120 ngàn tỉ dặm, nếu đi với tốc độ của ánh sáng, để đến miền đất mới.
30 tháng 4 năm 1975 là ngày miền Nam tiếp thu miền Bắc. Xe tăng Việt Nam Cộng Hòa đi từ năm cửa ô tiến vào đường Thanh Niên. Dân chúng đứng hai bên đường cầm cờ vàng ba sọc đỏ vẫy chào. Gió lùa lên từ hai phía hồ Tây và hồ Trúc Bạch phe phẩy những giải khăn tang trắng cột trước nòng đại bác. Những người lính thuộc nhiều binh chủng đều bị trọng thương, nhưng họ vẫn đứng nghiêm trong tư thế trình diện nhân dân Hà Nội. Xe tăng đi ngang Văn Miếu, vòng quanh chùa Một Cột rồi chuyển hướng tiến về phía quảng trường Ba Đình. Buổi trưa, tiếng xích sắt chiến xa nghiến rát bỏng trên mặt đường tráng nhựa.
Vâng, bạn cứ việc nói thế, người Cộng sản là người thông minh vượt trội. Họ có trong tay chương trình vĩ đại. Dự án cho một thế giới hoàn toàn mới mẻ trong đó mỗi người đều có thể tìm ra chỗ đứng của mình. Phe chống đối chẳng có giấc mơ lớn nào, chỉ vài ba nguyên tắc đạo lí, cũ mòn và ngắc ngoải, để vá víu cái quần rách bươm của nền trật tự cũ. Vì thế, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi kẻ nhiệt tình, kẻ với tinh thần phấn chấn dễ dàng chiến thắng kẻ lừng khừng, nhút nhát. Họ không để phí phạm thời gian và đã nhanh chóng biến giấc mơ của họ thành hiện thực: kiến tạo khu vườn thượng uyển của công lí cho tất cả mọi người.
Một thanh niên quen thân với gia đình, thông minh học giỏi mà bị cản trở không được học lên, phải đi làm thợ xi-măng, chắc bất mãn lắm... Anh đi vượt biên chung toán với cô Ngọc, đánh nhau với cướp nên bị chúng phang côn vào sọ... về sau học tiếng Tây bị ngộ chữ, hóa lẩn thẩn... Mỗi ngày một lẩn thẩn hơn đến chỗ mất trí. Thế thôi... Bách nghĩ chuyện chị kể thật là giản dị.
Sau khi phiêu bạc nhiều đơn vị của ba vùng chiến thuật, tôi mới được đổi về Sài Gòn. Khi ấy cấp chỉ huy binh chủng sở hữu khu nhà quyết định dùng khoảng đất trong có khu vườn của mẹ dự trù làm bể bơi hay sân quần vợt chi đó và xe ủi đất đơn vị đã tới san bằng. Khi tôi trở về, cứ như Từ Thức về trần, khu vườn đã biến mất không còn dấu vết. Mẹ tôi chỉ nói là hết sức năn nỉ mấy người lính mới giữ được một cây trứng cá duy nhất bây giờ đã gần như cổ thụ mọc sát vách nhà.
Tôi đứng lặng người, run rẩy chạm những ngón tay mình lên mặt chữ. Cái cảm giác chạm tay vào đầu quan tài của năm 1969 bỗng hiện ra dưới những ngón tay tôi. Một tiếng nấc đưa lên thanh quản, vỡ òa ra, tôi khóc như chưa bao giờ được khóc. Nước mắt của bao nhiêu năm tụ lại một ngày, nước mắt của những ngày đi đón xác ở Kiên Giang khô lại bây giờ nứt ra như một mạch ngầm của suối bật lên trên mặt đất nứt nẻ. Tôi khuỵu chân ngồi xuống giữa lối đi của hai hàng kệ, khóc như chưa bao giờ được khóc.
Đêm Oakland. Câu Hỏi truyện ngắn - song ngữ Phùng Nguyễn Đinh Từ Bích Thúy chuyển ngữ
Đức nghiêng đầu mồi lửa cho điếu thuốc cuối cùng của cuộc hành trình. Tôi hạ một phần kính xe. Những sợi khói thuốc bay ngang qua mặt tôi và tan biến vào khối không khí lạnh và ẩm bên ngoài. Xe đang tiến lên cầu Bay Bridge. Đêm và Oakland đã ở phía sau, bây giờ.
Đức leans over to light his last cigarette of the journey. I turn the passenger’s window half way down. Threads of smoke fly pass me, out the window and dissipate into the damp and cool San Francisco air. The car is heading toward Bay Bridge. Night and Oakland are behind us, now.
Nguyễn lắp bắp: ‘‘Ngoan nào, ngoan nào,’’ hai tay ấn đùi Xoan xuống. Nguyễn để Xoan chủ động, mắt vẫn trâng trâng soi vào khoảng mịt mùng của cảm xúc dật lạc, của mặc cảm tự ti, của cuồng vọng sắt máu. Có điều lạ, trí Nguyễn thường loé ra những mưu toan nham hiểm trong cơn khoái ngất. Lần này là kế hoạch dành cho bọn Nam kỳ, nếu phải rút đi, sẽ ra chỉ thị cho chúng tìm cách cấy mầm quan hệ với phụ nữ Nam bộ, phòng khi về sau trở vào, dễ bề thao túng.
Giả sử có 2 điểm A và B; nếu đi từ A đến B, bạn phải băng qua một không gian trống, rất thuận tầm mắt cho những tay súng bắn tỉa. Bạn phải chạy từ A đến B; càng chạy nhanh, bạn càng có cơ may sống sót khi đến B. Đoạn đường từ A đến B la liệt những thứ mà người dân trong lúc chạy gấp rút đã đánh rơi. Một chiếc ví da màu đen có lẽ không còn gì trong đó.
Anh ở phòng 13. Con số mỗi khi đọc lên là cảm giác rờn rợn bò dọc sống lưng, hệt như lúc đi qua cái mả hoang ẩn sau khúc quanh dẫn ra cánh đồng thời thơ ấu. Con số nghe là đã thấy xui. Mấy người tù bảo thế. Nghe hoài thì tin theo chứ anh ở trong đó lâu rồi và anh thấy cũng vậy thôi. Đã vào đây thì từ chỉ từ xui lớn đến xui nhỏ.
Cho đến giờ, tôi vẫn hình dung, một viên đạn súng trường bắn chỉ thiên xiên xiên, lên suốt tầng mây, đến đỉnh parabol, lao vút xuống, trúng vào một người, đó gọi là “đạn lạc”. Mặc dù bây gìơ đã biết không hẳn là thế.
Mai hồi đó đang thành người lớn. Mắt đã liếc gương, miệng đã tươi tắn, ngực đã chanh cốm, cử chỉ đã điệu đàng, nụ cười đã e dè giữ ý. Nhưng lớn trước tuổi là đôi bàn tay Mai. Những ngón tay Mai vờn trên phím dương cầm như những bước chân chim nhởn nhơ nhẩy nhót.
Cha tôi thì cứ kể tiếp. Giọng say rượu của ông lung lay tất cả những màn kính trong ngôi nhà mới của chúng tôi, khuấy động từng hạt bụi, và tràn đầy trong tôi, một cách chầm chậm mà chắc chắn, một khung cảnh diệt vong. Thất trận của ông là di sản của tôi; cay đắng của ông là kế thừa của tôi.
chiến tranh có trăm bộ mặt, ngàn giọng nói và triệu cách giết người. con người cứ sinh ra trong chiến tranh và chết đi trong chiến tranh. như thế hệ chúng ta là thực chứng không thương tiếc. chúng ta sống đã gần hết đời mình vẫn chưa nói được một lần dù với ngay con cháu chúng ta. không có sự thật ở nơi giả trá được tôn vinh
Sữa đen từ vỡ sáng chúng tôi uống lúc chiều
chúng tôi uống giữa trưa và sáng chúng tôi uống ban đêm
chúng tôi uống và uống
chúng tôi đào nấm mồ trong trời rộng đủ chỗ để nằm
Người đàn ông trong căn nhà hắn giỡn chơi với rắn và hắn viết
thơ Wisława Szymborska Lê Ðình Nhất-Lang chuyển ngữ
Sau mỗi cuộc chiến
ai đó phải dọn dẹp thôi.
Mọi thứ rốt cuộc sẽ không lượm
chính mình lên đâu.
Ai đó phải dồn
gạch vụn sang bên đường
để những xe đẩy chất đầy xác
còn đi qua.
trang đầu của mạng tài liệu wikipedia ghi nhận:
ngày 30 tháng 4:
ngày Hoàng Hậu ở Netherlands
đêm Walpurgis ở một vài quốc gia Châu Âu
ngày Chiến Thắng của Việt Nam
the main page of wikipedia.org states:
april 30:
Queen’s Day in the Netherlands
Walpurgis Night in a few European countries
Victory Day in Vietnam
buổi sáng xanh bao hành lang đi vắng
những cuộc đảo chính dấy lên từ những căn phòng mươi tách trà bộ tràng kỷ
đã nằm vào đúng vị trí những phụ chú nhem mực in
bây giờ là mười giờ kém năm, tôi và hai cây bách khô
ngày chín tháng mười một năm 2001,
Hoa Kỳ bị tấn công trên chính mảnh đất hãnh diện nhất của nó
nàng thịnh nộ bỏ phiếu cảm tính kêu bỏ bom trả thù,
“đó là phong cánh Hoa Kỳ”,
nàng phát biểu thản nhiên.
september 11, 2001
the U.S. was attacked on its very own soil, its most prized city
she put in an emotional vote to support a bombing of revenge
“it’s the American way,”
she calmly stated.
Lời độc thoại của một người lính Hànội: Những Ống Dẫn Máu. Tất cả bắt đầu bằng lời thề là có những ống dẫn máu từ tử cung của những người mẹ Việt Nam tới những chiến trường mà những mưu kế chiến trường thì kéo dài bất tận và ác độc
Trên mặt đất số không (ground zero) người ta đã cử hành một đám tang mùa xuân lạ nhất trong lịch sử của con người: Đám tang băng ca. Trong im lặng khối thép nát cuối cùng trên chiếc băng ca phủ cờ sao đi qua những con mắt đau đớn trong tiếng trống di quan vọng từng hồi. Lẫn tiếng khóc We will never forget.
Thuyền nhân là những người bỏ xứ ra đi bằng thuyền. Còn. Em chặn tay lên ngực. Gió biển lùa qua mớ tóc khô cháy, từng sợi, từng sợi phất phơ. Những. Người. Em liếm môi. Giọng nói mỏng loãng tan vào gió. Vượt. Biên. Em bật lên cơn ho thắt ruột. Tôi muốn vuốt ngực dỗ dành cơn ho như mẹ tôi thường làm khi con bé em nhỏ xíu của tôi bị ho nhưng tôi ngại ngần. Tôi không muốn những thằng cướp biển lại lảng vảng hiện về quanh em. Đường. Bộ.
Chiến tranh chấm dứt không phải cách anh mong muốn; các kế hoạch đời anh đều đổ vỡ, ngoại trừ việc lập gia đình. Với hai bàn tay trắng.
Anh trở nên ít nói.
Anh ít ra khỏi nhà.
Anh hút thuốc tay ám khói.